Ý nghĩa lâm sàng xét nghiệm định tính 5 hạng mục viêm gan B

 

1 (HbsAg) Kháng nguyên bề mặt: Là kháng nguyên có ở lớp vỏ protein của virus viêm gan B hoặc ở các hạt virus hoàn chỉnh, sự xuất hiện của nó thường kèm theo sự tồn tại của virus viêm gan B, vì vậy nó là tiêu chí để đánh giá việc nhiễm virus viêm gan B. HbsAg có thể tồn tại ở máu, nước bọt, sữa mẹ, mồ hôi, nước mắt, dịch tiết ở mũi, hầu họng, tinh dịch và dịch tiết âm đạo…của bệnh nhân. Khi nhiễm virus viêm gan B sau 2 đến 6 tháng, ALT tăng cao 2 -8 tuần trước đó, kiểm tra huyết thanh có thể thấy kết quả dương tính. Đa số những người viêm gan B cấp tính ở thời kỳ đầu của quá trình bệnh lý có thể chuyển sang âm tính, những bệnh nhân viêm gan B mãn tính chỉ số có thể vẫn cho kết quả dương tính. Từ đó lấy làm tiêu chí để đánh giá tình trạng nhiễm virus, tuy nhiên nó không phản ánh được virus có sao chép hay không, quá trình sao chép diễn ra như thế nào, mức độ lây truyền ra sao.

2 Anti HBs: Là tiêu chí kháng thể có tính trung hòa, khi virus viêm gan B thâm nhập vào cơ thể, nó kích thích hệ thống miễn dịch sản sinh ra phản ứng miễn dịch, Tế bào Lympho B trong hệ miễn dịch người tiết ra một loại miễn dịch đặc thù – miễn dịch Globulin(G), hay còn gọi là kháng thể bề mặt. Nó có khả năng kết hợp với kháng nguyên bề mặt tương ứng, sau đó trong cơ thể nó cộng với các chức năng miễn dịch khác cùng tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, tiêu diệt virus, bảo vệ cơ thể chống lại việc tái nhiễm virus viêm gan B, do đó kháng thể bề mặt còn có thể gọi là kháng thể phòng hộ. Tiêu chí chủ yếu để xem có khả năng phục hồi hay không hoặc phải chăng có sức đề kháng thấp. Người đã tiêm vaccine phòng viêm gan B thì sẽ có chỉ số Anti HBs dương tính, đây là hiện tượng bình thường sau khi tiêm vaccine phòng bệnh viêm gan B; những người sau khi nhiễm virus Viêm gan B mà hệ miễn dịch tự nhiên của cơ thể có thể tự tiêu diệt được virus thì cũng có khả năng sản sinh ra kháng thể bề mặt.

3 (HBeAg) còn gọi là tiêu chí sao chép virus. Thường gọi là kháng nguyên e. Nó có nguồn góc là lấy từ lõi của virus viêm gan B, là thành phần của kháng nguyên lõi hoặc là chất sinh ra sau quá trình phân tách kháng nguyên lõi. Kháng nguyên e bản chất là một protein hòa tan. Khi phân tách kháng nguyên lõi, một bộ phận protein hòa tan (kháng nguyên e) bị dung hòa vào trong huyết thanh, tồn tại trong môi trường máu, khi lấy máu làm xét nghiệm hóa sinh có thể kiểm tra thấy sự có mặt của HBeAg (kháng nguyên e), từ đó đánh giá sự hiện diện của kháng nguyên lõi, biểu hiện là virus đang hoạt động và nhân rộng, đồng thời tính lây nhiễm khá là mạnh mẽ. Tiếp tục dương tính trên 3 tháng điều đó có nghĩa là bệnh có xu hướng chuyển sang mãn tính.

4 (Anti HBe) tiêu chí hạn chế, kìm hãm hoặc ngăn chặn sự nhân lên của virus. Sự sao chép virus viêm gan trong tổ chức gan dần dần chậm lại, do virus đang trong thời kỳ hoạt động sao chép chuyển sang kỳ ngừng hoạt động, tổ chức viêm của gan cũng thường từ thể hoạt động biến sang thể ngừng hoạt động. Hạt virus trong tổ chức gan và trong máu cũng giảm, vì vậy tính truyền nhiễm cũng giảm. Nhưng Anti-HBe và anti HBs không đồng nhất, kháng thể e không phải kháng thể bảo hộ, không nói lên được rằng bệnh nhân có miễn dịch hay không. Cũng có khi tự nhiên kiểm tra thấy kháng thể e dương tính, nhưng trong tế bào gan vẫn có thể kiểm tra thấy DNA của virus viêm gan B, điều đó có nghĩa là vẫn có sự tồn tại của virus. Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, kháng thể e dương tính xuất hiện khi khả năng sao chép của virus giảm sút, đồng thời khả năng lây truyền cũng giảm, khi đó các hạt virus có khả năng cũng chỉ còn lại rất ít, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là virus đã được tiêu diệt.

5 Anti-HBc gọi tắt (còn gọi là kháng thể lõi của viêm gan B), mặc dù không kiểm tra thấy kháng nguyên lõi trong huyết thanh (khi ở trong máu kháng nguyên lõi dễ dàng bị phá vỡ) nhưng nó vẫn có kháng nguyên, có Khả năng kích thích hệ miễn dịch của cơ thể sản sinh ra kháng thể đặc trưng – kháng thể lõi, Kiểm tra Anti HBc có thể hiểu rõ hơn cơ thể người có kích thích kháng nguyên lõi hay không, cũng đồng nghĩa với việc người đó đã từng bị nhiễm virus viêm gan B hay chưa. Vì vậy đối với người đã từng bị nhiễm hoặc đang bị nhiễm virus viêm gan B đều có thể xuất hiện chỉ số này. Kháng thể lõi IGM là nhiễm mới hoặc chỉ tiêu sao chép của virus, kháng thể lõi IgG là kháng thể mà sau khi nhiễm sẽ sinh ra.

“Viêm gan B hai cặp rưỡi” là chỉ tình trạng nhiễm HBV mà việc sao chép không thể phản ánh chính xác bệnh tình nặng nhẹ, ví dụ biểu hiện của “đại tam dương” không phải lúc nào bệnh tình cũng là trầm trọng, hay “tiểu tam dương” cũng không phải lúc nào cũng là bệnh nhẹ. Để phán đoán mức độ nặng nhẹ của bệnh viêm gan B, ngoài việc phải kiểm tra “viêm gan hai cặp rưỡi” còn phải kết hợp với việc định lượng 5 hạng mục viêm gan, kiểm tra chức năng gan, kiểm tra chỉ tiêu xơ gan, siêu âm, CT…mới có thể đánh giá chính xác bệnh tình. Ngoài ra, để chẩn đoán mức độ lây nhiễm của bệnh nhân và trạng thái sao chép của HBV chính xác hơn nữa chúng ta nên dùng phương pháp kiểm tra định lượng HBV – DNA.

Ý nghĩa lâm sàng của kết quả kiểm tra tổ hợp 5 hạng mục viêm gan B

HBsAg Anti-HBs HBeAg Anti-HBe Anti-HBc

Ý nghĩa lâm sàng

Từ trước đến nay chưa từng bị nhiễm virus viêm gan
Sau khi tiêm phòng Vaccin viêm gan b, hoặc bệnh tình đã ổn định sau khi nhiễm virus viêm gan B, đã hình thành miễn dịch

Người mang virus viêm gan B ở thể ẩn (thể không hoạt động) hoặc đang nhiễm bệnh ở thời kỳ cửa sổ, nghĩa là đã từng nhiễm virus viêm gan B

Nhiễm virus viêm gan B cấp tính giai đoạn hồi phục, hoặc đối tượng đã từng nhiễm virus viêm gan B.
Sau khi tiêm vaccine phòng chống viêm gan B, hoặc là bị nhiễm virus viêm gan B đã phục hồi, đã hình thành miễn dịch.
Thời kỳ hồi phục của viêm gan B, đã hình thành miễn dịch, Hồi phục sau nhiễm HBV cấp tính.
Nhiễm virus viêm gan B cấp tính giai đoạn sau thời kỳ tiềm ẩn, khả năng sao chép của virus khá kém, tính lây nhiễm cũng giảm.
Thời kỳ hồi phục sau nhiễm viêm gan B. Khả năng sao chép của virus khá kém, tính lây nhiễm cũng giảm.
Giai đoạn đầu thời kỳ hồi phục sau nhiễm viêm gan B. Khả năng sao chép của virus khá kém, tính lây nhiễm kém..
Viêm gan B cấp hay mãn tính. Khả năng sao chép của virus khá kém, tính lây nhiễm kém.
Viêm gan B cấp hay mãn tính. Khả năng sao chép của virus khá kém, tính lây nhiễm kém.
Thời kỳ đầu của viêm gan B cấp tính. Khả năng sao chép của virus khá lớn, tính lây nhiễm mạnh.
Viêm gan B cấp hay mãn tính. Khả năng sao chép của virus khá lớn, tính lây nhiễm mạnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>